Tự tử là một vấn đề lớn đáng được toàn xã hội quan tâm. Tại Việt Nam 60% số người tự tử ở độ tuổi 19 – 40 với tỉ lệ nam: nữ là 3:1, 50 – 65% trong số đó có dấu hiệu trầm cảm, lo âu. Số liệu trên thực tế có thể còn cao gấp đôi hoặc gấp ba do số liệu nguyên nhân tử vong chưa được thống kê đầy đủ và lo sợ sự kì thị của xã hội. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc phòng ngừa tự tử là của tất cả mọi người tại cộng đồng hay những người sống xung quanh cá nhân có nguy cơ tự tử, chính là nhân tố quan trọng nhất trong việc can thiệp và phòng ngừa tự tử.

Tự tử thường không có sự phân biệt về giới tính, tuổi tác và văn hóa vùng miền. Các hành vi tự tử thường phức tạp và không có nguyên nhân đặc biệt rõ ràng. Thực tế có rất nhiều yếu tố khác nhau đóng vai trò nguyên nhân, hành vi tự tử. Nhưng phần lớn những người có nguy cơ tự tử có những dấu hiệu dưới đây:
Nói về việc mong muốn được chết hoặc muốn tự tử. Cảm xúc trống rỗng, tuyệt vọng, mất đi sự thích thú với xung quanh hoặc không có lý do để sống.
Dễ bị kích thích, mất ngủ, ngủ quá nhiều. Tìm cách để chết như, mua dự trữ thuốc ngủ, thuốc trừ sâu.
Có tiền sử về tự tử (bản thân hoặc gia đình). Có tiền sử về rối loạn tâm thần (bản thân hoặc gia đình), như trầm cảm, lo âu, rối loạn stress sau sang chấn, tâm thần phân liệt, rối loạn nhân cách ranh giới. Biến đổi về hành vi, cảm xúc một cách đột ngột như vui lên, bình thản một cách khác lạ, hoặc lấy đồ vật yêu quý của mình đem đi tặng cho người khác, viết thư từ biệt, dặn dò hậu sự, đọc các thông tin liên quan đến cái chết…
Lạm dụng các chất kích thích: rượu, ma túy…, vừa được chẩn đoán mắc bệnh mãn tính, bệnh hiểm nghèo. Sang chấn tinh thần như mất người thân, lạm dụng tình dục, mất việc, chia tay người yêu…, chứng kiến hành vi tự sát của người khác như thành viên gia đình, bạn thân, ngôi sao nổi tiếng.
Không phải bất cứ ai có những dấu hiệu ở trên đều có ý tưởng tự tử mà điều quan trọng cần chú ý: tự tử chính là một phản ứng không bình thường của cơ thể đối với stress. Ý tưởng tự tử hay hành vi tự tử là dấu hiệu của những căng thẳng đỉnh điểm mà bất cứ một dấu hiệu cảnh báo nào cũng đều cần được quan tâm và không thể thờ ơ.
Thông thường gia đình và bạn bè là những người đầu tiên nhận ra được dấu hiệu cảnh báo của người có ý định tự tử, gia đình và bạn bè chính là những người đầu tiên giúp đỡ, tìm kiếm những chuyên gia trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần để chẩn đoán và điều trị cho những người có ý định tự tử.
Nếu bạn thấy những dấu hiệu cảnh báo ở trên đúng với người thân của mình, hãy tìm cách giúp đỡ càng sớm càng tốt đặc biệt nếu hành vi vừa mới xuất hiện hoặc có dấu hiệu nặng dần lên. Hãy tìm đến những chuyên gia chăm sóc sức khỏe tâm thần nơi gần nhất để được tư vấn, trợ giúp một cách chuyên nghiệp và an toàn.
Điều trị và các liệu pháp
Theo các chuyên gia có rất nhiều yếu tố nguy cơ dẫn tới tự tử và những yếu tố thay đổi theo tuổi, giới, tình trạng sức khỏe, tâm thần và trải nghiệm của mỗi cá nhân. Điều trị và liệu pháp cho những cá nhân có ý tưởng và hành vi tự tử vì thế cũng thay đổi tùy từng đối tượng.
Liệu pháp nhận thức hành vi có thể giúp người bệnh tìm ra phương pháp mới để đương đầu với những căng thẳng. Đồng thời, cũng giúp cá nhân nhận ra được nhịp suy nghĩ của mình và xem xét các hành động thay thế khi ý tưởng tự tử tăng lên.
Một liệu pháp phổ biến trên thế giới là liệu pháp hành vi biện chứng đã làm giảm tỉ lệ tự sát ở những người rối loạn nhân cách ranh giới. Trị liệu sử dụng hành vi biện chứng giúp người bệnh nhận ra được cảm giác và hành động của họ là không bình thường và kém lành mạnh, rồi dạy họ các kĩ năng cần thiết để xử lý tốt hơn những tình huống căng thẳng.
Rất nhiều người có nguy cơ tự tử có đáp ứng tốt với thuốc điều trị. Bác sĩ chuyên ngành sẽ khám và điều trị cho người bệnh loại thuốc với liều lượng phù hợp nhất để giúp người bệnh vượt qua được giai đoạn khủng hoảng và duy trì chất lượng cuộc sống một cách tốt nhất./.
Bs. Trần Phát Tài – Phòng KHNV, TTYT Châu Phú






