Lao là một trong những căn bệnh nguy hiểm, có nguy cơ cao về sự lây lan trong cộng đồng và nhiều khả năng dẫn đến tử vong. Nếu không tuân thủ phác đồ điều trị sẽ tạo cơ hội cho các thể lao kháng thuốc, lao đa kháng thuốc phát triển và lây lan trong cộng đồng. Tuy nhiên quá trình điều trị kéo dài từ 6-8 tháng, bệnh nhân gặp phải một số vấn đề khó khăn nên không tuân thủ theo đúng phác đồ.

- Kiến thức của người mắc bệnh lao
Một số thể lao chưa biểu hiện lâm sàng nhiều nên người bệnh còn chủ quan có suy nghĩ bệnh nhẹ chưa cần thiết phải điều trị. Hoặc điều trị sau đợt thuốc tấn công đến liều duy trì bệnh nhân nghĩ đã hết bệnh nên không cần thiết phải điều trị tiếp tục.
- Tác dụng không mong muốn do thuốc lao gây ra
– Dị ứng da nổi ban, ngứa: từ phát ban rát sần nhẹ đến phát ban gây phản ứng toàn thân nghiêm trọng như hội chứng tiêu thượng bì nhiễm độc và hội chứng Stevens-Johnson, phù mạch và hoại tử da do dị ứng với các thành phần của thuốc điều trị.
– Đau khớp: đau khớp, viêm khớp, đau cơ và các triệu chứng thoáng qua thường gặp nhất trong những tháng đầu điều trị.
– Viêm gan: buồn nôn, nôn, vàng da, vàng củng mạc mắt, nước tiểu màu trà, phân nhạt và chán ăn, tăng men gan.
– Rối loạn điện giải: đa số các trường hợp rối loạn hạ kali máu và magiê máu thường không có triệu chứng lâm sàng rõ ràng. Đối với các trường hợp rối loạn ở mức trung bình có thể xuất hiện triệu chứng: mệt mỏi, đau cơ, chuột rút, dị cảm, yếu chi dưới, hành vi hay tâm trạng thay đổi, buồn ngủ hay nhầm lẫn. Rối loạn điện giải nặng có thể dẫn đến co cứng cơ, tê liệt và loạn nhịp tim.
– Suy thận: thường thể hiện ở giai đoạn cuối của suy thận bao gồm thiểu niệu/vô niệu hoặc quá tải dịch gây phù ngoại biên, thở nông hoặc thay đổi trạng thái tinh thần.
– Nôn, buồn nôn: giai đoạn đầu buồn nôn, nôn có thể do viêm gan hoặc ở phụ nữ mang thai, lâu ngày dễ dẫn đến nôn ra máu hoặc nhìn như bã cà phê là dấu hiệu của chảy máu đường tiêu hóa trên và thường loét dạ dày, một số là do dị ứng với kháng sinh trong điều trị lao. Đối với người đồng nhiễm HIV triệu chứng này kéo dài hơn do tình trạng nhiễm toan lactic hoặc viêm gan thứ phát do thuốc.
– Tiêu chảy, đầy hơi: đi ngoài ≥ 3 lần/ngày xảy ra trong vài ngày, có thể theo sốt hoặc có máu trong phân.
– Giảm thính lực: ù tai, triệu chứng tiền đình như mất thăng bằng
– Thần kinh ngoại biên: cảm giác tê bì như kiến bò, ngứa râm ran hoặc nóng bừng ở đầu các ngón tay, ngón chân hoặc mất cảm giác về nhiệt độ, các triệu chứng thường biểu hiện đầu tiên ở chi dưới. Nặng hơn bao gồm giảm phản xạ gân sâu, yếu và rối loạn dáng đi.
– Trầm cảm: buồn chán kéo dài, mất hứng thú tham gia các hoạt động yêu thích trước đây, thiếu năng lượng hoạt động, thần kinh cơ chậm chạp, rối loạn giấc ngủ, chán ăn, ám ảnh tội lỗi, vô vọng, không tập trung được vàcó ý định tự tử.
- Cách khắc phục
Đối với nhân viên y tế cần tư vấn cho bệnh nhân và thân nhân bệnh nhân cách phòng bệnh hiệu quả của bệnh lao là mang khẩu trang, vệ sinh bề mặt nhà, tạo môi trường sống thông thoáng…tuân thủ điều trị theo phác đồ của y tế, đến cơ sở y tế tái khám nhận thuốc theo đúng lịch hẹn, tầm soát lao cho người thân trong gia đình.
Đối với bệnh nhân cần tìm hiểu các nguồn thông tin đặc biệt là từ nhân viên y tế về các vấn đề điều trị và phòng bệnh lao. Cần đến cơ sở y tế khám và nhận thuốc điều trị nhất là trong tháng điều trị tấn công để kịp thời phát hiện các phản ứng không mong muốn do thuốc điều trị lao gây ra, bệnh nhân được điều chỉnh phác đồ, liều điều trị phù hợp với từng cá nhân. Thực hiện xét nghiệm chức năng gan, thận theo yêu cầu của nhân viên y tế hoặc định kỳ. Hạn chế các yếu tố ảnh hưởng làm nghiêm trọng hơn tình trạng bệnh và tác dụng phụ của thuốc như thuốc lá, rượu bia.
Trương Thị Kiều Hoa – TTYT Phú Tân






