Nguyễn Minh Thời – TTYT Tịnh Biên
Truyền thông có vai trò quan trọng với công tác dân số. Nhờ có tuyên truyền cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin với nội dung và hình thức phù hợp với từng nhóm đối tượng mà nhận thức, hành vi của người dân dần thay đổi. Từ đó, chất lượng dân số đã từng bước được nâng lên rõ rệt.

Thời gian qua, nhờ có công tác tuyên truyền mà những khẩu hiệu, pháp lệnh dân số được người dân biết đến và nhiệt tình hưởng ứng. Các nội dung tuyên truyền này được triển khai đến người dân bằng nhiều hình thức phong phú, dễ hiểu và phù hợp với nhiều nhóm đối tượng. Trong đó, có thể kể đến các hình thức như truyền thanh, họp nhóm, tư vấn trực tiếp với các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, tuổi vị thành niên. Từ đó, đã góp phần vào sự thành công của công tác dân số. Có được kết quả trên phải kể đến sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ dân số, những cộng tác viên (CTV), cán bộ y tế xã… Lợi thế của những người này là sống ở ngay trong cộng đồng khu dân cư, họ am hiểu phong tục, tập quán, tân dụng thời gian phù hợp tiếp cận nên có thể hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng, đáp ứng được nhu cầu của người dân. Vì vậy, mọi lúc, mọi nơi có thể tuyên truyền, hướng dẫn, tư vấn về sức khỏe một cách hiệu quả nhất. Nếu trong giai đoạn trước, đội ngũ CTV dân số chỉ tập trung tuyên truyền về kế hoạch hóa dân số, chưa thực hiện truyền thông nhiều về các nội dung chăm sóc sức khỏe khác như là quyền sinh sản; làm mẹ an toàn; phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS; sức khỏe sinh sản; bình đẳng giới… thì nay đẩy mạnh sang truyền thông về dân số và phát triển theo Nghị quyết số 21/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương. Song song đó, vẫn tiếp tục vận động mỗi cặp vợ chồng nên có 2 con, bảo đảm trách nhiệm trong việc sinh con và nuôi dạy con tốt. Mặt khác, tập trung vận động sinh ít con ở vùng có sinh con cao; duy trì kết quả ở những nơi đã đạt mức sinh thay thế. Bên cạnh đó, phổ biến về tác hại mất cân bằng giới tinh khi sinh. Hướng dẫn thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về cư trú, về cấm tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống. Ngoài ra, còn tăng cường giáo dục sức khỏe sinh sản trong và ngoài nhà trường để hình thành kiến thức, kỹ năng về dân số một cách có hệ thống ở giới trẻ. Song song đó, họ cũng đẩy mạnh vận động phong trào thường xuyên luyện tập thể dục thể thao, chăm sóc người cao tuổi, thực hiện lối sống lành mạnh, có chế độ dinh dưỡng hợp lý để nâng cao sức khỏe. Chính từ những hoạt động trên mà ngày nay người dân có nhận thức đầy đủ về công tác dân số. Chẳng hạn họ biết lợi ích khi sinh đủ hai con, cách chăm sóc trẻ trong 1000 ngày vàng, nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 06 tháng đầu, khám thai định kỳ và tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 01 tuổi.
Bên cạnh kết quả đạt được, hiện nay công tác truyền thông dân số vẫn còn một số hạn chế như ở một số vùng sâu, vùng xa tập quán và tư tưởng lạc hậu vẫn chi phối đời sống và hành động của người dân nên chuyển biến hành vi còn chậm; cán bộ chuyên trách và CTV thường xuyên thay đổi nên việc tiếp cân kỹ năng chuyên môn bị hạn chế; kinh phí hỗ trợ cho công tác truyền thông còn thấp nên ảnh hưởng đến các hoạt động. Hy vọng trong thời gian tới, ở tuyến y tế cơ sở với sự thành lập phòng Dân số và Truyền thông giáo dục sức khỏe sẽ tạo điều kiện cho việc phối hợp nhịp nhàng, bài bản; nhằm tăng thêm sức mạnh trong việc nâng cao chất lượng hoạt động. Đặc biệt là tăng cường tuyên truyền trên zalo, facebook; hệ thống truyền thanh huyện, xã. Từ đó, sẽ đưa thêm nhiều thông tin đến người dân một cách kịp thời và hiệu quả./.






