
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ước tính trên toàn thế giới, cứ 160 người thì có 1 người tự kỷ. Đây là một rối loạn lan tỏa sự phát triển do bất thường của não bộ xuất hiện sớm trong những năm đầu đời. Thông thường các biểu hiện của bệnh xuất hiện dần dần trong 3 năm đầu đời của trẻ. Cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa đưa ra được những con số xác thực để kết luận về nguyên nhân nào đưa đến bệnh tự kỷ. Tuy nhiên tự kỷ được xem là một khuyết tật bẩm sinh. Nó không phải là hậu quả của việc cha mẹ thiếu chăm sóc trẻ hay do phản ứng phụ của Vắc xin như nhiều người vẫn nghĩ. Theo các nhà khoa học, di truyền và yếu tố nguy cơ thai sản (trẻ đẻ non, bị ngạt, mẹ lớn tuổi, nhiễm trùng, nhiễm độc khi mang thai…) là những nguyên nhân chính gây ra chứng rối loạn tự kỷ. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ sinh đôi cùng trứng có tỷ lệ bị tự kỷ cao hơn hẳn (64%) do với trẻ sinh đôi khác trứng (9%). Trong khi đó, tỷ lệ anh chị em ruột của cùng mắc tự kỷ là 2 – 3%.
Trẻ bị tự kỷ thường có những biểu hiện kém tương tác xã hội, bất thường về ngôn ngữ, giao tiếp và hành vi. Trẻ thường có các dấu hiệu khác thường trong 3 lĩnh vực sau: Hạn chế trong tương tác với người khác trong nhiều bối cảnh: gọi tên ít quay lại, hạn chế tiếp xúc mắt với cha mẹ và người khác, không chia sẻ điều trẻ thích, không chia sẻ cảm xúc, không chơi chung, thiếu tương tác với mọi người, khó khăn trong việc chơi đòi hỏi trí tưởng tượng hoặc kết bạn; Giảm khả năng giao tiếp: chậm nói, không thể hiện ngôn ngữ cơ thể, hay nhại lời, phát âm thanh lạ vô nghĩa, không hiểu và không biết sử dụng cử chỉ, điệu bộ trong giao tiếp; Có các hành vi lặp đi lặp lại: thích tự xoay tròn, thích nhìn vật xoay tròn, thích sắp xếp đồ vật thành hàng thẳng, khó thích nghi với những thay đổi mới, lăng xăng, tăng động…
Số trẻ tự kỷ trong thời gian gần đây có xu hướng tăng. Nguyên nhân là do trong cuộc sống nhiều bậc phụ huynh bận rộn với công việc, ít có thời gian gần gủi con cái nên chưa nhận rõ các dấu hiệu báo động của tự kỷ, dẫn đến việc không phát hiện kịp thời để đưa trẻ đi thăm khám và có kế hoạch can thiệp. Trên thực tế, có nhiều trường hợp trẻ bị tự kỷ nhưng phụ huynh không nhận biết và chỉ đưa trẻ đến phòng khám vì lý do: “chậm nói”. Điều này khiến việc điều trị cho trẻ bị chậm trễ và hiệu quả không cao. Bởi, nếu không được can thiệp sớm, đúng phương pháp, vấn đề tự kỷ có thể làm cho trẻ chịu những hệ quả rất nặng nề như không nói được, không giao tiếp được, không tự phục vụ bản thân được suốt cuộc đời.
Có thể ngăn ngừa bệnh tự kỷ ở trẻ em bằng các biện pháp theo dõi thai kỳ và đảm bảo sức khỏe của mẹ trong thai kỳ, đặc biệt là trong 3 tháng đầu tiên; Đảm bảo một môi trường an toàn và lành mạnh cho trẻ, bao gồm việc giảm thiểu tiếng ồn, ánh sáng mạnh, sử dụng vật dụng không độc hại và khử trùng định kỳ; Tăng cường, đảm bảo trẻ được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng và vitamin cần thiết cho sự phát triển tối đa của não bộ; Đưa trẻ đến kiểm tra sức khỏe, chích ngừa định kỳ và cung cấp những giáo dục sức khỏe cần thiết cho trẻ; Đẩy mạnh việc tương tác giữa trẻ và gia đình, bạn bè, cộng đồng để trẻ có được một tình cảm ấm áp, yên tĩnh và an toàn trong môi trường xã hội. Đồng thời, ghi nhận các dấu hiệu bất thường của trẻ và nhanh chóng đưa trẻ đến khám tại các cơ sở y tế có chuyên khoa tâm lý. Những biện pháp trên có thể giúp ngăn ngừa bệnh tự kỷ ở trẻ em, tuy nhiên không đảm bảo hoàn toàn. Theo ghi nhận, thời gian vàng can thiệp cho trẻ tự kỷ là trước 3 tuổi./.
Nguyễn Minh Thời- Trung tâm Y tế TX Tịnh Biên


