Hiện nay, Việt Nam đang kiểm soát tốt vấn đề bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là tình hình dịch bệnh COVID-19. Công tác phòng, chống dịch đã và đang được triển khai chủ động kết hợp chặc chẽ với hệ thống y tế dự phòng từ trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, sau khi mắc COVID-19 là một loạt vấn đề về sức khỏe đáng quan tâm, thậm chí có nhiều người khi nhiễm không có triệu chứng hoặc triệu chứng rất nhẹ cũng có thể xuất hiện bất thường sau khi bệnh.
Theo nghiên cứu Y tế của nhiều quốc gia trên Thế giới, sau khi bệnh nhân mắc COVID-19 ngay cả khi đã hồi phục thì vẫn còn để lại những rối loạn về chức năng và bệnh lý kéo dài vài tháng có khi đến hơn 1 năm, giới Y khoa gọi các tình trạng sau khi mắc COVID-19 là tình trạng “Hậu COVID-19” hoặc “Hội chứng hậu COVID-19”.
Những triệu chứng hay gặp của Hội chứng hậu COVID-19?
Theo thống kê hiện nay có trên 200 biến chứng hậu COVID-19 được phát hiện, trong đó các triệu chứng hay gặp nhất là:
– Triệu chứng toàn thân: mệt mỏi, đau cơ, đau khớp, sốt, khan tiếng…
– Triệu chứng cơ quan hô hấp, tim mạch: khó thở, hụt hơi, ho kéo dài, đau ngực…
– Triệu chứng cơ quan thần kinh, nội tiết: đau đầu, chóng mặt, suy giảm trí nhớ, giảm khả năng tập trung, rối loạn giất ngủ, rối loạn kinh nguyệt, trầm cảm, lo âu…
– Triệu chứng cơ quan tiêu hóa: đau dạ dày, tiêu chảy, rối loạn đại tràng…
Còn rất nhiều triệu chứng khác có thể biểu hiện sớm hoặc muộn tùy theo sức khỏe mỗi cá nhân, có thể gặp ở những người bình thường hoặc có thể gặp ở những người có bệnh lý nền khác nhau, nhưng hay gặp nhất vẫn là: cảm giác mệt mỏi (58%), nhức đầu (44%), suy giảm trí nhớ (27%), khó thở (24%)…
Vậy cơ chế nào gây ra hội chứng hậu COVID-19?
Theo tổng hợp của nhiều nguồn thông tin, hội chứng hậu COVID-19 hình thành từ 3 cơ chế chính như sau:
– Sự xâm nhập trực tiếp của vi rút vào tế bào của cơ thể người thông qua thụ thể của men chuyển hóa angiotensin 2, gây ra vô số tổn thương cấu trúc và rối loạn chức năng của tế bào ở hàng loạt hệ thống cơ quan như: hô hấp, thần kinh, nội tiết, tiêu hóa, xương khớp.
– Phản ứng viêm và phản ứng miễn dịch quá mức của cơ thể trong quá trình chống lại sự xâm nhập và phát triển của vi rút gây sự tổn hại đa cơ quan trọng đợt bệnh cấp.
– Yếu tố chưa tiêm chủng có bệnh lý nền khi mắc COVID-19 cũng làm gia tăng đáng kể hội chứng hậu COVID-19
– Những yếu tố tâm lý xã hội cũng một phần nào ảnh hưởng đến điều kiện chăm sóc sức khỏe và sự hồi phục của cơ thể như: cách ly, suy giảm khả năng kinh tế, đói nghèo, mất người thân,…
Với tình trạng hiện nay, điều trị hậu COVID-19 là điều trị không đặc hiệu nghĩa là cần điều trị triệu chứng khi phát hiện và tiếp tục theo dõi, chăm sóc và hồi phục các chức năng. Đặc biệt, sự phục hồi chức năng của hệ hô hấp được đánh giá cần quan tâm nhiều hơn và đặt lên hàng đầu.
Trên thực tế các bệnh nhân khi mắc COVID-19 có triệu chứng nhẹ thì các di chứng nặng trên phổi vẫn có thể xảy ra. Còn F0 có triệu chứng hô hấp càng nặng trong giai đoạn cấp tính COVID-19, sau khi khỏi di chứng phổi càng nhiều.
Hội chứng hậu COVID-19 phát hiện lúc nào và kéo dài bao lâu?
Các di chứng hậu COVID-19 cần được tầm soát và xác định sớm từ 01-03 tháng sau khi khỏi bệnh, tùy trường hợp mà có thể sớm hơn.
Người bệnh gặp triệu chứng của hậu COVID-19 kéo dài ít nhất 06 tháng sau khi khỏi bệnh.
Khám hội chứng hậu COVID-19 cần làm những xét nghiệm nào?
Kiểm tra sức khỏe sau khi mắc COVID-19 nhằm đánh giá chức năng và chẩn đoán các bệnh lý liên quan đến:
Di chứng tim mạch: các triệu chứng đau ngực và tăng men tim kéo dài là nguyên nhân gây viêm cơ tim. Ngoài ra, một số nhóm người bệnh có biểu hiện mạch nhanh khi nghỉ ngơi, hội chứng nhịp nhanh được cho là rối loạn hệ thần kinh tự trị. Cần phát hiện sớm và đo điện tim, chụp X-quang ngực, siêu âm tim, chụp MRI, sinh thiết cơ tim….
Di chứng tổn thương phổi: phổi là cơ quan chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề nhất từ COVID-19. Các nghiêm cứu cho thấy 34 % số người có tổn thương ở nhu mu phổi với hình dạng xơ hóa phổi. Chức năng trao đổi khí của phế nang giảm, giảm thông khí phổi và giảm khả năng đàn hồi của phổi. Các xét nghiệm chuẩn đoán hình ảnh như X-quang, CT phổi là cách để đánh giá và theo dõi diễn biến và tổn thương ở phổi.
Di chứng tổn thương ở gan, thận và nội tiết chuyển hóa: các xét nghiệm chỉ số men gan để đánh giá tình trạng tổn thương của gan. Các chỉ số Creatinin là giá trị quan trọng để đánh giá chức năng thận. Chỉ số Glucose máu và HBA1c giúp phản ánh tình trạng tăng đường huyết thoáng qua do COVID hay bệnh đái tháo đường có từ trước.
Tình trạng tăng đông hậu COVID-19: tình trạng tăng đông là một vấn đề rất đáng lo ngại do xuất hiện các cục máu đông làm hạn chế lưu thông máu, gây ra các biến chứng nghiêm trọng như nhồi máu cơ tim, đột quỵ, thuyên tắc phổi. Cục máu đông hạn chế dòng chảy của máu đến các bộ phận khác có thể gây tổn thương tứ chi, đường tiêu hóa hay thận. Xét nghiệm các yếu tố liên quan đến tình trạng tăng đông như D-dimer, aPTT, TQ giúp chuẩn đoán tình trạng tăng đông, giúp chuẩn đoán và phòng ngừa các biến chứng liên quan.
Cách khắc phục hội chứng hậu COVID-19?
Để khắc phục được những hậu quả sau khi mắc COVID-19, cần thực hiện đều đặn mỗi ngày những bài tập sau:
Tập thở: giúp phục hồi chức năng của phổi.
Đi bộ: đều đặn mỗi ngày khoảng 30 phút, sau đó tăng dần thời gian hoặc các bài tập tăng độ phục hồi phổi như: hít đất, bơi lội, chèo thuyền…
Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng: để cơ thể phục hồi một cách đơn giản giúp cơ thể chữa lành hội chứng hậu COVID-19
Khám hậu COVID-19: cần tuân thủ chỉ định tái khám của bác sĩ. Người bị di chứng nhẹ, viêm phổi đơn thuần, chỉ cần điều trị bằng vật lý trị liệu, nâng dung tích phổi bằng cách tập các động tác hít thở, thể dục… Người mắc di chứng nặng cần nhập viện điều trị hay dùng thuốc tại nhà. Sau thời gian điều trị, người bệnh trở lại bệnh viện để được chụp chiếu kiểm tra lại, đánh giá mức độ cải thiện, phục hồi của phổi, thực hiện theo đúng lời khuyên của bác sĩ.
HSTH. Đặng Nguyễn Tường Vy – Trạm Y tế Bình Đức, TP Long Xuyên







