Tại Việt Nam, từ năm 1957 – 1959 đã từng xảy ra các trận dịch lớn trước khi có vắc xin. Năm 1959, tỷ lệ mắc bệnh bại liệt ở nước ta là 126,4/100.000 dân, nhưng đến năm 1962 tỷ lệ này đã giảm rất nhiều và không còn xảy ra những trận dịch lớn nhờ chúng ta đã chế tạo thành công vắc xin phòng bệnh bại liệt.

Bệnh bại liệt là gì ?
Bệnh bại liệt là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Polio gây ra. Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi nhưng người lớn chưa có miễn dịch cũng có thể mắc bệnh. Vi rút có thể tấn công hệ thần kinh, gây liệt cơ, teo cơ, tàn tật suốt đời và có thể dẫn đến tử vong nếu ảnh hưởng đến cơ hô hấp.
Đường lây truyền
Bại liệt là một bệnh rất dễ lây và lây theo cơ chế từ người sang người, chủ yếu theo đường phân – miệng. Hầu như trẻ em sống cùng nhà hoặc tiếp xúc với những bệnh nhân mang mầm bệnh đều có nguy cơ cao bị nhiễm virus bại liệt.
Biểu hiện bệnh bại liệt
– Bại liệt thể nhẹ: Các triệu chứng thường gặp nhất là những triệu chứng giống như các bệnh nhiễm trùng do virus khác gây ra, bao gồm: sốt cao, đau đầu, mất ngủ, rát cổ họng, buồn nôn và nôn mửa, táo bón hoặc tiêu chảy. Bệnh có thể hồi phục trong vài ngày.
– Bại liệt thể không liệt: Hay còn gọi là thể viêm màng não vô khuẩn, biểu hiện thường gặp nhất là đau đầu, cứng cổ và thay đổi chức năng tâm thần.
– Bại liệt thể liệt: Triệu chứng phổ biến nhất là sốt, sau đó là đau đầu, cứng cổ, cứng lưng, táo bón và nhạy cảm khi bị chạm vào người. Bệnh nhân dần dần mất cảm giác vận động ở phần dưới của cơ thể dẫn đến liệt không đối xứng. Sau đó bệnh nhân sẽ phục hồi dần trong vòng từ 2 đến 6 tháng. Trong các trường hợp nặng hơn, nếu liệt cả tủy sống và hành tủy thì có thể dẫn đến suy hô hấp và tử vong.
Để phòng ngừa bệnh hiệu quả Cục Y tế dự phòng – Bộ Y tế khuyến cáo mọi người nên thực hiện tốt những biện pháp dưới đây nhằm chủ động phòng, chống căn bệnh bại liệt:
Tiêm vắc đầy đủ: ây là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất. Cha mẹ cần đưa trẻ đi tiêm chủng đúng lịch theo chương trình tiêm chủng mở rộng.
Giữ vệ sinh cá nhân: Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi chăm sóc trẻ nhỏ.
Đảm bảo vệ sinh ăn uống: Ăn chín, uống sôi, sử dụng nguồn nước sạch.
Giữ vệ sinh môi trường sống: Thu gom, xử lý rác thải đúng quy định, giữ nhà cửa, khu vực sinh sống sạch sẽ, thoáng mát.
Phát hiện và xử lý kịp thời ca bệnh: Khi có dấu hiệu nghi ngờ (sốt, yếu cơ, liệt đột ngột), cần đến cơ sở y tế ngay./.
Nguyễn Thị Út Thùy – TYT xã Tân Hiệp







