Chúng ta đang thực hiện cuộc vận động “sinh đủ hai con” nhằm duy trì vững chắc mức sinh thay thế. Đây là giải pháp nhằm không để mức sinh giảm quá thấp, từng bước đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên, tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số (DS) vàng, thích ứng với quá trình già hóa DS, thực hiện phân bố dân cư hợp lý và nâng cao chất lượng DS.
Theo đó, đối với địa phương có mức sinh cao, tiếp tục áp dụng và nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách khuyến khích các cặp vợ chồng, gia đình, tập thể, cộng đồng không có người sinh con thứ ba trở lên; hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, bao gồm phương tiện tránh thai; bồi dưỡng, hỗ trợ người thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ, người vận động thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Bởi đông con là một trong những nguyên nhân chính gây nên tình trạng nghèo đói. Khi dân số gia tăng nhanh, các nguồn lực, vật chất nuôi sống con người sẽ bị thiếu hụt nghiêm trọng, dẫn đến tình trạng các hộ nghèo không có đủ tiền chi phí cho việc học hành, chữa bệnh; khó có đủ điều kiện nuôi dạy con phát triển toàn diện và thành đạt. Từ đó, dẫn đến nạn thất học, bỏ học của trẻ em các lứa tuổi và tình trạng ốm đau, bệnh tật của người dân kéo dài; tình trạng thất nghiệp gia tăng, gây phát sinh tệ nạn xã hội.
Còn đối với địa phương có mức sinh thấp, trước mắt cần rà soát, khuyến khích sinh đủ hai con. Bởi sinh ở mức thấp về lâu dài thì lại có tác động tiêu cực như dẫn đến tình trạng già hóa dân số nhanh, tỷ lệ lao động trong tương lai sẽ giảm sút và tỷ lệ người già sẽ tăng. Từ đó, rất nhiều vấn đề về an sinh xã hội sẽ phát sinh như thiếu lực lượng lao động, không có nguồn lực chăm sóc người cao tuổi, gây ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội. Cụ thể, khi già hóa dân số nhanh sẽ kéo theo gia tăng quỹ phúc lợi xã hội, dịch vụ chăm sóc cho người cao tuổi. Nhu cầu cán bộ điều dưỡng chăm sóc người già sẽ tăng đột biến trong bối cảnh lực lượng lao động giảm. Cùng với đó, mức sinh thấp làm gia tăng các dòng di cư, nên kéo theo các dịch vụ đi kèm để cung cấp cho người nhập cư như nhà ở, trường học, bệnh viện. Điều này sẽ gây nguy cơ xung đột do những khác biệt về sắc tộc, tôn giáo, văn hoá, kỹ năng làm việc, cạnh tranh việc làm, do quá trình di cư, nhập cư và sẽ kéo theo hậu quả là tác động đến sự ổn định xã hội, phát triển đất nước và làm phát sinh hàng loạt các vấn đề về an sinh xã hội, trật tự an ninh, quốc phòng.
Bên cạnh việc sinh đủ hai con, đồng thời vận động không kết hôn muộn, sinh con muộn, cụ thể nên mang thai trước tuổi 35. Bởi, thai phụ càng lớn tuổi có nguy cơ cao gặp các biến chứng trong thai kỳ như tiểu đường, tăng huyết áp, dễ dẫn tới nguy cơ tiền sản giật và các bệnh liên quan đến rối loạn nhiễm sắc thể cho thai nhi như hội chứng Down, Edwards. Đặc biệt, càng lớn tuổi, muốn sinh con lại gặp khó khăn và phải điều trị vô sinh. Điều đó gây ảnh hưởng đến kinh tế, tâm lý của các gia đình, cũng như tạo thêm áp lực cho ngành y tế.
Như vậy, để góp phần thực hiện thành công chiến lược dân số Việt Nam vào năm 2030, việc “sinh đủ hai con” là nhằm duy trì vững chắc mức sinh thay thế và giảm chênh lệch mức sinh giữa các vùng, địa phương, sẽ giúp tránh được những hiệu ứng không tích cực của cả hai trạng thái: quy mô dân số quá đông, mật độ dân số quá cao do mức sinh tăng trở lại hoặc quy mô dân số giảm sớm, giảm nhanh nếu mức sinh giảm xuống dưới mức thay thế thì rất khó đưa mức sinh tăng trở lại. Hiện nay, việc sinh con không còn là chuyện riêng của mỗi gia đình, mà là sự tồn vong của một quốc gia. Việc sinh đẻ phù hợp, đảm bảo mức sinh hợp lý sẽ kéo dài được thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”, làm chậm lại quá trình già hóa dân số, khống chế được sự gia tăng tỷ số giới tính. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng dân số và góp phần phát triển kinh tế, xã hội. Quyết định số 588/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030” có đề ra mục tiêu duy trì vững chắc mức sinh thay thế (mỗi phụ nữ sinh 2,1 con) trên toàn quốc, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đây cũng là một trong 8 mục tiêu quan trọng mà Chiến lược Dân số đến năm 2030 đã đề ra trước đó./.
Nguyễn Minh Thời – TTYT Tịnh Biên







