I-ốt là một vi chất dinh dưỡng mà cơ thể cần với một lượng rất nhỏ, nhưng chức năng thì lại rất lớn, thậm chí quyết định khả năng trí tuệ của một sinh vật. Để ngăn ngừa các rối loạn do thiếu hụt i-ốt, Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), Hội đồng quốc tế phòng chống các rối loạn do thiếu hụt i-ốt đã đưa ra khuyến cáo cần bổ sung i-ốt vào chế độ ăn hàng ngày của những quần thể có nguy cơ bị thiếu i-ốt và muối i-ốt được xem là giải pháp bổ sung i-ốt hiệu quả nhất.
Vai trò của muối i-ốt: I-ốt là thành phần cấu trúc căn bản của nội tiết tố tuyến giáp. Nội tiết tố này tác dụng trên tất cả các tế bào của cơ thể và ảnh hưởng đến hoạt động của các tuyến nội tiết khác.Vai trò của i-ốt chính là vai trò của nội tiết tố tuyến giáp.
– Sinh sản và biệt hóa tế bào,đặc biệt quan trọng là tế bào xương và thần kinh.
– Điều hòa thân nhiệt.
– Tạo tế bào máu.
– Điều phối hoạt động của hệ thần kinh, cơ.
– Điều phối hoạt động sử dụng oxy của tế bào.
– Tham gia quá trình chuyển hóa năng lượng nội tế bào…
Thiếu i-ốt liên quan đến bệnh lý: I-ốt là vi chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, i-ốt góp phần quan trọng vào quá trình hình thành, phát triển và duy trì các hoạt động của con người.
– Nội tiết tố tuyến giáp có vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa năng lượng và sinh sản tế bào, nên thiếu hụt i-ốt liên quan đến nhiếu vấn đề về sức khỏe nhất là thiếu hụt xảy ra ở trẻ em và phụ nữ mang thai.
– Ở người lớn thiếu i-ốt đưa đến tình trạng nhược giáp, mệt mỏi, giảm khả năng lao động cả về thể chất lẫn trí tuệ, tăng cân, tích tụ mở không phù hợp, giảm khả năng điều hòa thân nhiệt (hay lạnh), bướu giáp, …
– Thiếu i-ốt ở phụ nữ mang thai có khả năng dẫn đến sinh non, thai chậm phát triển, thai chết lưu và đáng ngại nhất là bệnh đần độn ở thai nhi.
– Thiếu i-ốt ở trẻ em trong độ tuổi tăng trưởng sẽ làm trẻ chậm phát triển thể chất và trì tuệ, cơ thể thấp lùn, giảm chỉ số thông minh, thiếu máu…
Nhu cầu và nguồn cung cấp muối i-ốt:
– Nhu cầu khuyến nghị i-ốt hàng ngày là 90mcg/ngày ở trẻ em, 120mcg/ngày ở trẻ vị thành niên,150mcg/ngày ở người trưởng thành và 2000mcg/ngày ở phụ nữ có thai và cho con bú. Nhu cầu này hoàn toàn có thể được đáp ứng với khẩu phần muối ăn khuyến nghị tương đương 5g muối/ngày.
– I-ốt là một nguyên tố vi lượng cần thiết cho con người. Nhưng cơ thể chúng ta không thể tự tổng hợp được chúng nên cần phải bổ sung i-ốt từ nguồn thức ăn bên ngoài. Trong tự nhiên, i-ốt thường có trong cá biển, rong biển, rau chân vịt và một số loại hải sản. Tuy nhiên, nguồn cung cấp chính và chủ yếu cho con người là thông qua các chế phẩm chứa i-ốt như muối, hạt nêm, nước tương…
Thừa i-ốt: Thừa i-ốt có thể gặp trong một số trường hợp bổ sung i-ốt dưới dạng thuốc với liều cao. Các biểu hiện thừa i-ốt cũng tương tự dấu hiệu thiếu i-ốt như phì đại tuyến giáp, chậm phát triển bào thai, suy giáp… ngộ độc i-ốt ít khi xảy ra.
Cách sử dụng muối i-ốt:
– Sử dụng muối i-ốt nêm nếm như muối thường khi nấu ăn;
– Muối i-ốt có thể dùng để ướp thức ăn, làm mắm, muối dưa, …
– Mỗi người nên ăn dưới 6g muối trong một ngày (ít hơn 1muỗng cà phê muối) để phòng tránh các bệnh tim mạch.
Lựa chọn, bảo quản muối i-ốt:
-Chọn những gói muối i-ốt có nhãn hiệu in rõ ràng, bao bì phải còn nguyên vẹn;
– Đựng muối i-ốt trong bao nilong buộc kín hoặc trong lọ có nắp đậy;
– Để muối nơi khô ráo, thoáng mát;
– Không nên rang muối i-ốt, không nên để muối gần bếp lửa hoặc nơi có nắng nóng vì i-ốt dễ bay hơi.
Hưởng ứng “Ngày toàn dân mua và sử dụng muối I-ốt – 02/11”, ngành Y tế kêu gọi mọi gia đình, mọi người dân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em sử dụng muối i-ốt hoặc các chế phẩm thức ăn có i-ốt trong bữa ăn hàng ngày để không bị mắc các bệnh rối loạn do thiếu i-ốt gây ra./.
Cn. Nguyễn Thị Mỹ Dung – Trung tâm Kiểm soát bệnh tật An Giang







