- Bốn thói quen có hại đưa đến nhiều nguy cơ tim mạch
– Ăn nhiều thức ăn chiên xào nhiều mỡ, thịt động vật và nhiều muối. Bữa ăn thiếu rau, quả tươi, thiếu chất xơ đưa đến xơ vữa thành mạch.
– Thói quen hút thuốc lá và uống nhiều rượu bia.
– Mắc Béo phì thừa cân, bệnh tiểu đường, tăng lipid máu không tuân thủ trị liệu.
– Thiếu vận động thể lực
- Các dấu hiệu cần khám chuyên khoa Tim mạch
– Khó thở: Những người bị bệnh tim thường có dấu hiệu khó thở, nhất là khi vận động quá sức hoặc lao động nặng nhọc hoặc lo lắng, buồn phiền về việc gì đó.
– Đau tức ngực: Khi bị đau tức ngực, kèm theo khó thở thì thường nghĩ ngay đến dấu hiệu của bệnh tim mạch.
– Choáng váng, dễ ngất xỉu trong lúc làm việc đi lại cũng là dấu hiệu của bệnh tim.
– Tự nhiên sụt cân hoặc tăng cân đột ngột, phù cũng là dấu hiệu của bệnh tim mạch. Nguyên nhân là do trầm cảm hay tiểu đường, hoặc nếu tăng cân đột ngột thì có thế do bị tích lũy quá nhiều dịch trong cơ thể.
– Vết thâm tím mãi không tan, da xanh tím
Khi có các dấu hiệu như đã nói ở trên thì nên đến bệnh viện ngay để khám, phát hiện bệnh và chữa trị kịp thời nhằm giảm bớt tối đa những tác động xấu của bệnh lên sức khỏe, thậm chí là mạng sống của người bệnh.
- Đánh giá dự phòng nguy cơ tim mạch
Đây là khái niệm phản ánh những nguy cơ xảy ra bệnh lý tim mạch trên bệnh nhân trong một khoảng thời gian xác định, thường được đánh giá trong 10 năm. Nguy cơ tim mạch tổng thể được phân thành 4 mức: thấp, trung bình, cao và rất cao.
- Thấp: nguy cơ tử vong trong vòng 10 năm < 1%.
- Trung bình: nguy cơ tử vong trong vòng 10 năm từ 1%- 5%.
- Cao: nguy cơ tử vong trong vòng 10 năm từ 5%-10%.
- Rất cao: nguy cơ tử vong trong vòng 10 năm ≥ 10%.
Được xây dựng dựa trên các yếu tố như tuổi, giới tính, chỉ số huyết áp, chỉ số cholesterol máu, tình trạng đái tháo đường, hút thuốc lá… Thông qua những thông số này, bệnh nhân sẽ được tính tổng điểm và từ đó biết được nguy cơ tim mạch trong vòng 10 năm tới.
3.1. Tuổi tác: Đây là nhân tố dự đoán bệnh quan trọng nhất vì đa số những người cao tuổi có nguy cơ mắc bệnh tim mạch rất cao.
3.2. Giới tính: Nam giới là đối tượng có nguy cơ tim mạch cao hơn phụ nữ. Tuy nhiên, những đối tượng là phụ nữ cao tuổi sau mãn kinh cũng có khả năng mắc bệnh tim mạch nên rất cần chú ý đến trường hợp này.
3.3. Di truyền: Những người có thành viên trong gia đình mắc bệnh tim mạch, nhất là thành viên nam trước 55 tuổi và thành viên nữ trước 65 tuổi thì sẽ có nguy cơ tim mạch cao hơn.
3.4. Tăng huyết áp: Đây là một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch thường gặp nhất. Dấu hiệu tăng huyết áp này rất nguy hiểm, ít biểu hiện triệu chứng trên lâm sàng nhưng lại là nguy cơ gây bệnh tim mạch và để lại những biến chứng tim mạch nguy hiểm.
Ngoài ra, tình trạng tăng huyết áp còn đi cùng với những nguy cơ tim mạch khác như béo phì, tăng cholesterol, triglycerid máu, đái tháo đường… Vì vậy, cần điều trị hiệu quả tình trạng tăng huyết áp trên bệnh nhân.
3.5. Tăng cholesterol máu và rối loạn lipid máu liên quan: Đây là nguy cơ tim mạch có thể thay đổi được. Cholesterol máu gồm 2 thành phần quan trọng nhất là cholesterol trọng lượng phân tử cao (HDL-C) và cholesterol trọng lượng phân tử thấp (LDL-C). Bệnh tim mạch xảy ra khi nồng độ LDL-C, và khi nồng độ HDL-C tăng thì sẽ bảo vệ cơ thể chúng ta nên nếu nồng độ HDL-C giảm thấp thì cũng là yếu tố nguy cơ tim mạch.
Ngoài ra, tăng triglyceride – là một thành phần mỡ máu cũng làm tăng nguy cơ tim mạch. Những rối loạn lipid máu kể trên cũng đi kèm với bệnh lý như đái tháo đường, tăng huyết áp.
3.6. Hút thuốc lá: Hút thuốc lá yếu tố nguy cơ của bệnh lý mạch vành, bệnh máu ngoại vi, ung thư phổi và đột quỵ. Những người hít phải khói thuốc lá mặc dù không hút cũng có khả năng mắc bệnh.
3.7. Thừa cân, béo phì: Ngoài là yếu tố nguy cơ tim mạch, thừa cân béo phì còn là nguyên nhân dẫn đến những yếu tố nguy cơ tim mạch khác. Cụ thể là béo phì là yếu tố đầu tiên khiến tình trạng xơ vữa động mạch xuất hiện dẫn đến tăng huyết áp, đái tháo đường.
3.8. Đái tháo đường: Những đối tượng bị đái tháo đường, nhất là đái tháo đường type II có tỉ lệ bị bệnh tim mạch và đột quỵ cao hơn những người bình thường. Đây là yếu tố nguy cơ tim mạch dễ gây tử vong cho người bệnh
- Cách phòng tránh bệnh tim mạch
– Không hút thuốc lá, thuốc lào, ma túy, thuốc lắc…
– Tập thể dục thể thao, rèn luyện sức khỏe thường xuyên và đều đặn mỗi ngày.
– Han chế ăn các đồ có chứa nhiều chất béo
– Nên ăn nhiều các loại thực phẩm có nhiều chất xơ như các loại rau, củ, quả, ngũ cốc, đậu nành…
– Tránh bị căng thẳng – strees kéo dài.
– Hạn chế uống các loại thức uống có cồn như bia, rượu, nước ngọt có ga, cà phê, trà đặc…
– Kiểm soát, tránh bệnh cao huyết áp, mỡ máu.
– Cân bằng dinh dưỡng hợp lý./.
Bs Lê Minh Uy – Phó Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật An Giang





