Ngày 22-4, Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế thông tin Thái Lan ghi nhận 732 ca mắc Bệnh “Sốt đất” với 23 ca tử vong trên toàn quốc (01/01/2026 – 16/4/2026). Vậy “Sốt đất” là bệnh gì ?
Bệnh “Sốt đất” có nhiều tên gọi khác nhau: “Bệnh do vi khuẩn ăn thịt người”, “Vietnamese – time bomb” có nghĩa là bom hẹn giờ từ Việt Nam, “Lao Việt Nam”, Bệnh Whitmore… có tên khoa học là Melioidosis. Bệnh được gây ra bởi vi khuẩn Burkholderia pseudomallei (tên trước đây là Pseudomonas pseudomallei).

Trong năm 2025, Bệnh viện Đa khoa An Giang có tiếp nhận 01 trường hợp bệnh nhân nữ là công nhân may tại Đồng Nai, quê ở Phú Tân khi về quê ăn Tết thì phát bệnh nhập điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy với Sốc nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết do Burkholderia pseudomallei từ viêm da, mô mềm vùng đầu, biến chứng viêm tổ chức hốc mắt (P), viêm màng não, áp xe não trán (T), viêm phổi sau một tuần điều trị thì chuyển về Bệnh viện Đa khoa An Giang điều trị tiếp ba tuần, bệnh ổn được xuất viện và uống thuốc dự phòng sáu tháng, đến nay bệnh ổn.
Bệnh lần đầu tiên được phát hiện tại Myanmar vào năm 1911 bởi nhà khoa học người Anh tên là Alfred Whitmore (nên được gọi là Bệnh Whitmore). Bệnh thường gặp ở khu vực Đông Nam Á, Bắc Australia và Việt Nam cũng chính là một trong những vùng dịch tể của bệnh, bệnh cũng thấy ở Nam Thái Bình Dương, Châu Phi, Ấn Độ, và Trung Đông. Theo ước tính thì mỗi năm trên thế giới, số lượng bệnh nhân Melioidosis có thể lên đến 165.000 ca trên một năm và tỷ lệ tử vong có thể lên đến 10-50%, với số lượng có thể lên đến 89.000 trường hợp. Một trong những yếu tố góp phần dẫn đến tỷ lệ tử vong tương đối cao đó chính là do bệnh có biểu hiện tương đối đa dạng nên bệnh thường được chẩn đoán khá muộn. Bệnh nhân có thể nhiễm bệnh qua tiếp xúc với đất hoặc nước có chứa vi khuẩn thông qua các vùng da bị tổn thương hoặc thông qua cơ chế hít hoặc sặc chất bẩn có chứa vi khuẩn và đôi khi bệnh nhân cũng có thể nhiễm bệnh thông qua việc ăn uống phải thức ăn có chứa vi khuẩn không được nấu chín. Thông thường, mùa mưa bão chính là thời điểm bệnh hay bùng phát. Tại Việt Nam, ca bệnh đầu tiên được tác giả Pons và Advier từ Viện Pasteur Sài Gòn báo cáo vào năm 1925 ở một thai phụ 24 tuổi sống tại Thủ Đức. Trong khoảng 1948- 1954 có khoảng 100 binh lính Pháp bị nhiễm bệnh trên chiến trường Việt Nam, trong chiến tranh Việt Nam có khoảng 350 binh lính Mỹ bị nhiễm bệnh, sau ngày thống nhất đất nước chỉ có một số ít các bệnh viện lớn ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh công bố về các ca nhiễm bệnh, ngày nay ngày càng có nhiều ca bệnh hơn được báo cáo trên khắp cả nước. Ghi nhận tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP. Hồ Chí Minh, mỗi năm có khoảng 20 đến 30 bệnh nhân Melioidosis điều trị nội trú. Các bệnh nhân này thường đến từ Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực xung quanh. Ngày càng có nhiều ca bệnh hơn được báo cáo trên khắp cả nước.
Các yếu tố nguy cơ đã được xác định đối với Melioidosis như đái tháo đường, giới nam, trên 45 tuổi, nghiện rượu, có bệnh lý gan, bệnh phổi mạn tính, bệnh thận mạn tính hay Thalassemia … Ngoài ra việc tiếp xúc với đất và nước, đặc biệt trong mùa mưa cũng là yếu tố nguy cơ
Bệnh nhân nhiễm B. pseudomallei có thể có những biểu hiện bệnh vô cùng đa dạng từ nhiễm không triệu chứng hoặc có thể có biểu hiện bệnh cấp tính, bán cấp hoặc mạn tính. Đối với những bệnh nhân nhiễm không triệu chứng, vi khuẩn B. pseudomallei được ví như quả bom hẹn giờ bởi bệnh nhân có thể biểu hiện bệnh ở những khoảng thời gian rất lâu sau đó, thậm chí có thể lên đến vài chục năm. Đối với những bệnh nhân có triệu chứng, sau khi điều trị thì bệnh nhân vẫn có thể tái phát về sau. Các đặc điểm này cũng khá tương đồng với các biểu hiện bệnh của bệnh nhân lao. Đối với thời gian ủ bệnh, bệnh nhân thường có thời gian ủ bệnh từ 1 đến 21 ngày. Tuy nhiên cũng có những trừơng hợp có thời gian ủ bệnh lâu hơn, có thể lên đến vài chục năm như đã nói ở trên. Trong một nghiên cứu mô tả 540 bệnh nhân ở vùng nhiệt đới Australia trên 20 năm, có hình thái lâm sàng hay gặp là viêm phổi (51% bệnh nhân), tiếp đến là nhiễm khuẩn tiết niệu (14%), nhiễm khuẩn da (13%), nhiễm khuẩn máu không có ổ nhiễm khu trú (11%), viêm khớp nhiễm khuẩn hoặc viêm xương tủy (4%) và liên quan đến thần kinh (3%). Số còn lại 4% bệnh nhân không có bằng chứng nhiễm khuẩn khu trú. Hơn một nửa số bệnh nhân có biểu hiện nhiễm khuẩn huyết, và 20% trong số đó có biểu hiện sốc nhiễm khuẩn . Các áp xe cơ quan nội tạng và các ổ nhiễm thứ phát hay gặp ở phổi, khớp.
Viêm phổi do B. pseudomallei có thể biểu hiện cấp tính, bán cấp hay mạn tính. Những bệnh nhân có biểu hiện bán cấp và mạn tính thường được chẩn đoán ban đầu là lao khi chưa có kết quả vi sinh do một bệnh cảnh nhiễm trùng hô hấp kéo dài đi kèm với tổn thương gợi ý lao trên hình ảnh học. Tổn thương thường được ghi nhận trên hình ảnh học chính là tổn thương tạo hang.
Về mặt chẩn đoán, tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán là cấy các mẫu bệnh phẩm như máu, đàm, mủ, nước tiểu… cho kết quả là B. pseudomallei. Các xét nghiệm khác như soi nhuộm gram có độ nhạy và độ đặc hiệu không. PCR có thể cung cấp một kết quả xét nghiệm nhanh hơn kết quả nuôi cấy, nhưng thử nghiệm này ít nhạy cảm, đặc biệt khi được thực hiện trên máu.
Bệnh cần điều trị sớm với kháng sinh tĩnh mạch từ 2- 8 tuần, sau đó duy trì với kháng sinh đường uống ít nhất là 3 tháng. Tuy nhiên nếu bệnh nhân có nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương hoặc có viêm xương tủy đi kèm thì thời gian điều trị tiệt trừ ít nhất là 6 tháng.
Để chủ động phòng bệnh Whitmore, Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế khuyến cáo người dân thực hiện 8 biện pháp sau:
1. Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với đất, bùn, nước đọng, nước bẩn, nhất là tại khu vực ô nhiễm, khu vực bị ngập úng sau mưa lớn, bão lũ.
2. Sử dụng phương tiện bảo hộ phù hợp như giày, ủng, găng tay khi lao động, làm ruộng, làm vườn, dọn vệ sinh môi trường, thu gom rác thải, bùn đất sau mưa lũ hoặc khi phải thường xuyên tiếp xúc với đất, bùn, nước bẩn.
3. Che kín và chăm sóc tốt các vết thương hở, vết loét, vết bỏng; tránh để vết thương tiếp xúc với đất, bùn, nước bẩn. Trường hợp bắt buộc phải tiếp xúc, cần băng kín bằng vật liệu chống thấm và vệ sinh sạch sẽ ngay sau đó.
4. Không đi chân trần tại khu vực đất ẩm ướt, bùn lầy, vùng ngập nước; hạn chế tắm, bơi, ngụp lặn ở ao, hồ, sông, kênh rạch, vùng nước đọng nghi bị ô nhiễm, đặc biệt khi có vết thương hở.
5. Giữ gìn vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà phòng và nước sạch sau khi lao động, sau khi tiếp xúc với đất, bùn, nước bẩn và trước khi ăn, uống.
6. Sử dụng nước sạch trong sinh hoạt, ăn uống; bảo đảm an toàn thực phẩm, không sử dụng nguồn nước hoặc thực phẩm nghi bị ô nhiễm.
7. Người có bệnh nền như đái tháo đường, bệnh thận, bệnh phổi mạn tính, bệnh gan, suy giảm miễn dịch cần đặc biệt lưu ý thực hiện các biện pháp phòng bệnh nêu trên và chủ động bảo vệ các vết thương trên da để hạn chế nguy cơ nhiễm khuẩn.
8. Sau khi tiếp xúc với đất, bùn, nước bẩn, nhất là sau mưa bão, ngập lụt, nếu có biểu hiện sốt, ho, đau ngực, khó thở, nổi áp xe, nhiễm trùng da hoặc tình trạng nhiễm trùng kéo dài, cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, tư vấn, chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế khuyến cáo người dân không hoang mang, nhưng cần chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh, bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng./.
Bs Dương Quốc Hiền – BVĐK An Giang







