• Bộ Y tế
  • Cục y tế dự phòng
  • Viện Pasteur
  • UBND tỉnh An Giang
  • Sở Y tế An Giang
  • Cổng dịch vụ công Quốc gia
  • Nền tảng “Bình dân học vụ số”
Thứ Sáu, 17/04/2026
  • Home
  • Giới thiệu
    • Thông tin đơn vị
    • Sơ đồ tổ chức
    • Chức năng, nhiệm vụ của CDCAG
    • Chức năng, nhiệm vụ các Khoa – Phòng
    • Thông tin người có thẩm quyền
    • Fanpage
    • Youtube
    • OA Zalo
  • Hoạt động
    • 57-NQ/TW & 71/NQ-CP
    • Nghị quyết 72-NQ/TW
    • Nền tảng “Bình dân học vụ số”
    • Công tác CDC
    • Khoa – Phòng
    • Cải cách hành chính
      • Thủ tục hành chính: lĩnh vực phòng bệnh
      • Thủ tục hành chính: Kiểm dịch y tế
      • Thủ tục hành chính: HIV/AIDS
      • Kết quả giải quyết TTHC
      • Thông tin tổng hợp
      • Tài chính – Kế toán
      • Tuyên truyền pháp luật
      • Chuyển đổi số và Đề án 06/CP
      • Gương tốt
    • Đảng – Đoàn
      • Công tác Đảng
      • Đại hội Đảng toàn quốc XIV
      • Công đoàn
      • Đoàn Thanh niên
      • Học tập và làm theo gương Bác
  • Tin tức – Sự kiện
    • Thông cáo báo chí
    • Chủ đề truyền thông
    • Dược phẩm – Mỹ phẩm
    • Tuyên truyền phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả
  • Tài liệu truyền thông
    • Vi-rút Nipah
    • COVID-19
    • Bệnh lây nhiễm
      • Sốt xuất huyết
      • Tay – Chân – Miệng
      • Cúm gia cầm
      • Bệnh dại
      • Ho gà
      • Sởi – Rubella
      • Đậu mùa khỉ
      • HIV – Ma túy – Lao
    • Bệnh không lây nhiễm
      • Tổng hợp
      • Dinh dưỡng
      • Sức khỏe sinh sản
      • PCTH Thuốc lá
      • PCTH Rượu – Bia
      • Thalassemia
    • PC dịch (Bộ Y tế)
    • Phòng chống, khắc phục thiên tai
    • Chủ đề khác
      • Mùa nắng nóng
      • PCD mùa mưa lũ
      • Cúm mùa
      • Đau mắt đỏ
      • Viêm gan cấp
      • PC kháng thuốc
  • Dịch vụ
    • Vắc xin tiêm ngừa
    • Các dịch vụ khác
  • Mua sắm đấu thầu
  • Thông báo
  • Liên hệ
No Result
View All Result
  • Home
  • Giới thiệu
    • Thông tin đơn vị
    • Sơ đồ tổ chức
    • Chức năng, nhiệm vụ của CDCAG
    • Chức năng, nhiệm vụ các Khoa – Phòng
    • Thông tin người có thẩm quyền
    • Fanpage
    • Youtube
    • OA Zalo
  • Hoạt động
    • 57-NQ/TW & 71/NQ-CP
    • Nghị quyết 72-NQ/TW
    • Nền tảng “Bình dân học vụ số”
    • Công tác CDC
    • Khoa – Phòng
    • Cải cách hành chính
      • Thủ tục hành chính: lĩnh vực phòng bệnh
      • Thủ tục hành chính: Kiểm dịch y tế
      • Thủ tục hành chính: HIV/AIDS
      • Kết quả giải quyết TTHC
      • Thông tin tổng hợp
      • Tài chính – Kế toán
      • Tuyên truyền pháp luật
      • Chuyển đổi số và Đề án 06/CP
      • Gương tốt
    • Đảng – Đoàn
      • Công tác Đảng
      • Đại hội Đảng toàn quốc XIV
      • Công đoàn
      • Đoàn Thanh niên
      • Học tập và làm theo gương Bác
  • Tin tức – Sự kiện
    • Thông cáo báo chí
    • Chủ đề truyền thông
    • Dược phẩm – Mỹ phẩm
    • Tuyên truyền phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả
  • Tài liệu truyền thông
    • Vi-rút Nipah
    • COVID-19
    • Bệnh lây nhiễm
      • Sốt xuất huyết
      • Tay – Chân – Miệng
      • Cúm gia cầm
      • Bệnh dại
      • Ho gà
      • Sởi – Rubella
      • Đậu mùa khỉ
      • HIV – Ma túy – Lao
    • Bệnh không lây nhiễm
      • Tổng hợp
      • Dinh dưỡng
      • Sức khỏe sinh sản
      • PCTH Thuốc lá
      • PCTH Rượu – Bia
      • Thalassemia
    • PC dịch (Bộ Y tế)
    • Phòng chống, khắc phục thiên tai
    • Chủ đề khác
      • Mùa nắng nóng
      • PCD mùa mưa lũ
      • Cúm mùa
      • Đau mắt đỏ
      • Viêm gan cấp
      • PC kháng thuốc
  • Dịch vụ
    • Vắc xin tiêm ngừa
    • Các dịch vụ khác
  • Mua sắm đấu thầu
  • Thông báo
  • Liên hệ
No Result
View All Result

Tỉnh ủy An giang đề ra một số nhiệm vụ và giải pháp triển khai thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW

09/12/2025

Ngày 10/11/2025, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh An giang đã ban hành Chương trình hành động số 05-CTr/TU để triển khai thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Cụ thể, Tỉnh uỷ An Giang đã đề ra một số nhiệm vụ và giải pháp, như sau:

Một là, đổi mới mạnh mẽ tư duy và hành động trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân:

– Các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên quán triệt, nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vai trò đặc biệt quan trọng của công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân, là trọng tâm của chính sách kinh tế – xã hội. Lồng ghép và ưu tiên các chỉ tiêu về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế – xã hội.

– Chú trọng nâng cao ý thức tự giác, thói quen, nếp sống, trách nhiệm của mỗi người dân và toàn xã hội trong việc chủ động rèn luyện, bảo vệ và nâng cao sức khỏe. Đẩy mạnh phong trào toàn dân chủ động chăm sóc sức khỏe, xây dựng văn hóa sức khỏe trong Nhân dân. Thống nhất Ngày Sức khỏe thế giới 7/4 hằng năm là “Ngày Sức khỏe toàn dân”.

– Chủ động phòng ngừa và kiểm soát chặt chẽ các nguy cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tạo môi trường sống khỏe mạnh. Giảm thiểu tiêu thụ các sản phẩm có hại cho sức khỏe, nhất là thuốc lá, rượu, bia, các chất gây nghiện, gây tác hại cho sức khỏe con người. Chú trọng chăm sóc sức khỏe tâm thần, tạo môi trường sống, làm việc, học tập cân bằng. Quan tâm công tác quy hoạch, đầu tư, xây dựng và nâng cao hiệu quả sử dụng các thiết chế văn hóa, thể thao công cộng, không gian công cộng phục vụ rèn luyện sức khỏe cho Nhân dân. Triển khai các giải pháp đồng bộ bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, an toàn vệ sinh lao động, phòng, chống cháy nổ, tai nạn, thương tích, bạo lực gia đình. Xây dựng các mô hình cộng đồng, trường học và nơi làm việc an toàn, khỏe mạnh.

– Triển khai có hiệu quả các chương trình, chiến lược mục tiêu quốc gia nâng cao trí lực, thể lực, tầm vóc, tuổi thọ người Việt Nam, Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng, Chương trình chăm sóc sức khỏe học đường. Dinh dưỡng trong phòng bệnh phải được chú trọng thực hiện trong suốt vòng đời, theo từng lứa tuổi, giai đoạn phát triển, tình trạng sức khỏe, bảo đảm cân đối về khẩu phần, thành phần dinh dưỡng, chất lượng bữa ăn, phù hợp với thể trạng, văn hóa và điều kiện kinh tế của người Việt Nam.

– Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, tư vấn, phổ biến kiến thức về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe, đặc biệt là đối với trẻ em, thanh niên, người cao tuổi. Tăng cường giáo dục thể chất trong nhà trường; đưa nội dung giáo dục sức khỏe, dinh dưỡng vào chương trình giáo dục ở các cấp học phù hợp. Có chính sách nâng cao chất lượng dân số, bảo đảm thích ứng với già hóa dân số, gia tăng tỷ lệ sinh để đạt được mức sinh thay thế bền vững.

– Đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng môi trường quản trị ngành y tế minh bạch và trách nhiệm giải trình, gắn với đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền. Quy định cụ thể trách nhiệm của các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị, cơ sở y tế; phòng, chống lạm dụng, trục lợi chính sách và vi phạm pháp luật trong công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe Nhân dân.

Hai là, hoàn thiện thể chế, tập trung nâng cao năng lực hệ thống y tế, nhất là y tế dự phòng, y tế cơ sở, phát huy thế mạnh của y học cổ truyền:

– Thể chế hóa đầy đủ, kịp thời và triển khai có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện đồng bộ các quy định, cơ chế, chính sách của địa phương về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, đầu tư công, mua sắm công, ngân sách nhà nước… bảo đảm tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc, giải phóng nguồn lực thực hiện.

– Tập trung sắp xếp hệ thống y tế tinh gọn, hiệu quả, phù hợp mô hình chính quyền 02 cấp, bảo đảm liên kết, hỗ trợ kịp thời giữa các cấp chuyên môn của hệ thống y tế. Nâng cao năng lực các bệnh viện đa khoa tỉnh, bệnh viện chuyên khoa và trung tâm y tế, gắn kết chặt chẽ với mạng lưới trạm y tế. Phối hợp với các trường đại học y dược, các bệnh viện tuyến Trung ương trong công tác chỉ đạo tuyến, đào tạo nhân lực, chuyển giao kỹ thuật, nghiên cứu khoa học, điều phối ứng phó dịch bệnh, thiên tai, thảm họa và bảo đảm an ninh y tế trên địa bàn tỉnh và khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

– Củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực hệ thống y tế dự phòng theo hướng hiện đại, đủ năng lực giám sát, cảnh báo sớm, khống chế kịp thời dịch bệnh và chủ động tổ chức triển khai các hoạt động phòng, chống dịch bệnh. Tăng cường thực hiện Chương trình Tiêm chủng mở rộng cả về phạm vi và đối tượng tiêm chủng. Thực hiện quản lý, chăm sóc sức khỏe theo vòng đời. Khuyến khích người dân chủ động tiếp cận dịch vụ tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn, khám sàng lọc trước sinh, sơ sinh, khám sàng lọc một số loại bệnh tật phổ biến, nguy hiểm phù hợp với từng lứa tuổi, nhóm đối tuợng. Nâng cao năng lực hệ thống kiểm nghiệm, kiểm định, kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng môi trường sống, học tập, làm việc, chất lượng thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm, thiết bị y tế, chất lượng dịch vụ y tế.

– Chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả y tế cơ sở. Tập trung hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trạm y tế xã, phường, đặc khu theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập, bảo đảm cung ứng dịch vụ cơ bản, thiết yếu về phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám bệnh, chữa bệnh và các dịch vụ chăm sóc xã hội. Củng cố, nâng cao năng lực đồng bộ cho trạm y tế xã, phường, đặc khu về nhân lực, bảo đảm cơ cấu, đủ số lượng bác sĩ theo chức năng, nhiệm vụ; duy trì đội ngũ nhân viên y tế khóm, ấp, cộng tác viên dân số theo chức năng, nhiệm vụ; bảo đảm cơ sở vật chất, thuốc, thiết bị y tế cơ bản, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, biển đảo. Giai đoạn 2025-2030, hằng năm thực hiện luân phiên, luân chuyển, điều động bác sĩ về làm việc có thời hạn tại trạm y tế xã, phường, đặc khu; bổ sung bác sĩ cơ hữu tại trạm y tế xã, phường, đặc khu, đến năm 2030 có đủ bác sĩ theo chức năng, nhiệm vụ. Mỗi trạm y tế xã, phường, đặc khu được đầu tư đủ thiết bị y tế cơ bản theo quy định. Triển khai chăm sóc sức khỏe theo nguyên lý y học gia đình, tăng cường kết nối, hỗ trợ giữa các cấp chuyên môn kỹ thuật trong hệ thống y tế, trong đó tập trung hỗ trợ cho trạm y tế xã, phường, đặc khu. Trung tâm y tế khu vực được tổ chức theo nhu cầu chăm sóc sức khỏe của Nhân dân tại địa phương, cung cấp đầy đủ, kịp thời dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh nội trú, ngoại trú ở cấp cơ bản. Ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở y tế tại các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn, hạn chế trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

– Phát triển y tế chuyên sâu đáp ứng yêu cầu thực tiễn và hội nhập quốc tế; chú trọng một số chuyên ngành mũi nhọn phù hợp với điều kiện của tỉnh và nhu cầu khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Tăng cường liên kết giữa bệnh viện tuyển tỉnh, trung tâm y tế với các trường đại học, bệnh viện tuyến Trung ương và doanh nghiệp để nâng cao chất lượng chuyên môn, ứng dụng kỹ thuật mới. Phát triển Bệnh viện đa khoa Kiên Giang đảm nhận chức năng vùng, phát triên một số chuyên khoa sâu như tim mạch, ung bướu, sản – nhi, lão khoa, hồi sức cấp cứu, phục hồi chức năng, phát triển các bệnh viện khu vực trên cơ sở các trung tâm y tế hoạt động hiệu quả hoặc đầu tư xây mới, nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh chất lượng cao cho Nhân dân trong tỉnh và khu vực, hướng tới mục tiêu phát triển du lịch chữa bệnh, giảm tình trạng người dân phải chuyển tuyến trên hoặc ra nước ngoài điều trị. Từng bước phát triển các cơ sở chăm sóc, điều dưỡng, phục hồi chức năng và chăm sóc sức khỏe nguời cao tuổi, gắn kết chặt chẽ giữa hệ thống y tế và các cơ sở an sinh xã hội.

– Tăng cường kết hợp quân dân y, y tế công an để đáp ứng kịp thời các tình huống khẩn cấp về y tế công cộng và công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn. Xây dựng, triển khai hệ thống cấp cứu ngoại viện trên địa bàn tỉnh; kết hợp hiệu quả giữa các lực lượng y tế, công an, quân đội và các ngành liên quan, bảo đảm người dân được tiếp cận dịch vụ cấp cứu nhanh chóng, kịp thời ngay tại hiện trường.

– Phát huy tiềm năng, thế mạnh, nâng cao chất lượng của y học cổ truyền. Tăng cường quản lý nhà nước, nâng cao năng lực của hệ thống y học cổ truyền. Chú trọng kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại trong đào tạo nhân lực, phòng bệnh và khám, chữa bệnh. Phổ biến kiến thúc, kỹ thuật y học cổ truyền đến cộng đồng. Có cơ chế phát huy tiềm năng dược liệu, đẩy mạnh quy hoạch, phát triển vùng trồng dược liệu đạt tiêu chuẩn; bảo tồn tri thức truyền thống và phát huy giá trị đa dụng của dược liệu, các bài thuốc, phương pháp truyền thống.

Ba là, nâng cao y đức, phát triển nhân lực y tế chất lượng, đồng bộ, đáp ứng sự hài lòng của người bệnh và hội nhập quốc tế:

– Đổi mới toàn diện phong cách, tinh thần, thái độ phục vụ Nhân dân, người bệnh, gắn liền với nâng cao năng lực chuyên môn, xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ y tế sâu y lý, giỏi y thuật, giàu y đức, tận tụy với nghề nghiệp, xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của xã hội, theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Lương y phải như từ mẫu”. Hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp của cán bộ y tế; tăng cường giáo dục y đức, kiến thức pháp luật trong đào tạo khối ngành sức khỏe; thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao ý thức tự học tập, rèn luyện, trau dồi y đức, quy tắc ứng xử, kỹ năng giao tiếp, tư vấn người bệnh. Cải thiện môi trường làm việc, bảo đảm an toàn, giảm áp lực cho nhân viên y tế; đổi mới cách thức quản lý cung ứng dịch vụ y tế theo chất lượng đầu ra, đáp ứng sự hài lòng của người bệnh và nhân viên y tế. Tuyên truyền, phát động phong trào thi đua sâu rộng, xây dựng, biểu dương, khen thưởng và nhân rộng các điển hình tiên tiến về y đức; nâng cao tinh thần trách nhiệm, kỷ luật lao động, kiên quyết chấn chỉnh và khắc phục những biểu hiện tiêu cực tại các cơ sở y tế, xử lý nghiêm khắc, kịp thời các hành vi xâm hại nhân viên y tế. Tăng cường phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí trong lĩnh vực y tế.

– Phát triển nhân lực y tế bảo đảm đồng bộ về số lượng, chất lượng, cơ cấu, nhất là nhân lực phục vụ y tế cơ sở, y tế dự phòng, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, biển đảo. Triển khai hiệu quả Đề án đào tạo, bồi dưỡng bác sĩ tạo nguồn cho trạm y tế xã, phường, đặc khu, đặc biệt cho các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, biển đảo. Ưu tiên bố trí, huy động nguồn lực, có cơ chế, chính sách vượt trội để phát triển nhân lực y tế. Thành lập Phân hiệu của Trường Đại học Y Dược Cần Thơ tại tỉnh An Giang; đầu tư phát triển Trường Cao đẳng Y tế An Giang, một số cơ sở đào tạo lĩnh vực sức khỏe chất lượng cao. Phối hợp với Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ… đào tạo chuyên sâu đặc thù trình độ sau đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân trong lĩnh vực sức khỏe do Bộ Y tế quản lý.

– Có chính sách ưu đãi tương xứng với quan điểm nghề y là nghề đặc biệt, phải được đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt. Bác sĩ, bác sĩ y học dự phòng, dược sĩ được xếp lương từ bậc 2 của chức danh nghề nghiệp được tuyển dụng. Thực hiện chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội cho đội ngũ nhân viên y tế trực tiếp làm chuyên môn tại trạm y tế xã, phường, đặc khu, cơ sở y tế dự phòng; nâng mức phụ cấp ưu đãi nghề lên mức tối thiểu 70% cho người thường xuyên và trực tiếp làm chuyên môn y tế tại trạm y tế xã, phường, đặc khu, cơ sở y tế dự phòng; 100% cho người thường xuyên và trực tiếp làm chuyên môn y tế tại trạm y tế xã, phường, đặc khu, cơ sở y tế dự phòng ở khu vực vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, biển đảo, lĩnh vực tâm thần, pháp y, pháp y tâm thần, hồi sức cấp cứu, giải phẫu bệnh và một số đối tượng đặc thù khác phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội.

– Tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao kỹ thuật, khoa học, công nghệ, đào tạo nhân lực trong lĩnh vực y tế. Ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài, đội ngũ trí thức, chuyên gia có chất lượng cao trong lĩnh vực y tế vào tỉnh đầu tư và làm việc; đưa sinh viên giỏi, cán bộ y tế đi đào tạo chuyên sâu ở các nước có thế mạnh, kinh phí được chi trả từ các chương trình học bổng.
Bốn là, đẩy mạnh cải cách tài chính y tế và phát triển hiệu quả, bền vững chính sách bảo hiểm y tế:

– Ưu tiên bố trí và bảo đảm mức tăng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho chăm sóc sức khỏe Nhân dân phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ. Ngân sách nhà nước bảo đảm nhiệm vụ chi đáp ứng các yêu cầu cơ bản, thiết yếu của công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân; giữ vai trò chủ đạo trong bảo đảm tài chính, chi thường xuyên và đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị y tế cho y tế cơ sở, y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe cho người thuộc đối tuợng chính sách xã hội, một số đối tượng đặc thù và ở khu vực vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, biển đảo, lĩnh vực tâm thần, pháp y, pháp y tâm thần, hồi sức cấp cứu, giải phẫu bệnh. Có cơ chế tài chính phù hợp để huy động mọi nguồn lực xã hội đầu tư cho lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp y tế công.

– Triển khai khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người dân ít nhất mỗi năm một lần theo nhóm đối tượng và lộ trình ưu tiên. Từ năm 2026, tổ chức phối hợp giữa các hoạt động khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí, kiểm tra sức khỏe của học sinh, sinh viên, khám bệnh nghề nghiệp, khám sức khỏe cho nguời lao động theo quy định và khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế để khám bệnh miễn phí và hoàn thành việc tạo lập sổ sức khỏe điện tử cho toàn bộ người dân. Có chính sách hỗ trợ phù hợp đối với chi phí vận chuyển cấp cứu ngoại viện cho một số đối tượng chính sách xã hội.

– Từng bước thực hiện chính sách miễn viện phí, trước hết là đối với đối tượng chính sách xã hội, người yếu thế, người có thu nhập thấp và một số đối tượng cần ưu tiên khác trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế theo lộ trình. Từ năm 2026, từng bước thực hiện tăng tỷ lệ, mức thanh toán, chi cho phòng bệnh, chẩn đoán, điều trị sớm một số bệnh và đối tuợng ưu tiên theo lộ trình từ Quỹ Bảo hiểm y tế để giảm gánh nặng tài chính cho người bệnh, phù hợp với việc tăng mức đóng bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật từ năm 2027. Ngân sách nhà nước và Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả cho một số dịch vụ phòng bệnh, quản lý bệnh mạn tính, khám sức khỏe định kỳ và khám sàng lọc theo yêu cầu chuyên môn tại cấp khám bệnh, chữa bệnh ban đầu, cơ bản theo lộ trình phù hợp.

– Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng bền vững Quỹ Bảo hiểm y tế, cải cách thủ tục hành chính, sử dụng tiết kiệm chi phí quản lý, tăng chi cho khám bệnh, chữa bệnh. Thí điểm, đa đạng hóa các gói bảo hiểm y tế, bảo hiểm y tế bổ sung theo nhu cầu của người dân, liên kết giữa bảo hiểm y tế với bảo hiểm sức khỏe do các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp. Khuyến khích phát triển đa dạng các loại hình bảo hiểm sức khỏe.

– Chủ động lực lượng, xây dựng cơ chế phối hợp, điều phối nhân lực y tế, bảo đảm vắc-xin, dự trữ thuốc, vật tư, thiết bị y tế, đáp ứng kịp thời yêu cầu phòng, chống dịch bệnh, sự kiện y tế khẩn cấp, bào đảm an ninh y tế.
Năm là, đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn diện trong chăm sóc sức khỏe; phấn đấu đến năm 2030 tỉnh An Giang thuộc tốp đầu cả nước về ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế:

– Thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số y tế toàn diện. Phối hợp xây dựng và khai thác, sử dụng hiệu quả các cơ sở dữ liệu về y tế bảo đảm tiêu chuẩn kết nối, chia sẻ, liên thông đồng bộ và an ninh, an toàn. Vận hành hiệu quả sổ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử, đơn thuốc điện tử; kết nối đồng bộ, quản lý dữ liệu sức khỏe người dân theo vòng đời. Triển khai các sáng kiến nâng cao kiến thức sức khỏe kỹ thuật số. Tăng cường kiểm tra phòng, chống thông tin sai lệch, bảo đảm người dân có kiến thức, kỹ năng chăm sóc sức khỏe cần thiết. Có cơ chế hỗ trợ thu hút hiệu quả nhân lực công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế.

– Ưu tiên đầu tư, triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực y tế theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị. Đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain và dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT) trong lĩnh vực y tế, nhằm tăng cường tính minh bạch, hiệu quả trong việc cung cấp, sử dụng các dịch vụ y tế. Từng bước hình thành, phát triển các trung tâm nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực y tế phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh, gắn kết giữa bệnh viện – trường đại học – viện nghiên cứu trong và ngoài khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Tăng cường năng lực cho các đơn vị nghiên cứu, thử nghiệm, xét nghiệm y khoa của tỉnh. Chủ động hợp tác với các cơ sở nghiên cứu, trung tâm kỹ thuật cao trong và ngoài nước, để tiếp nhận, chuyển giao công nghệ mới trong chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng; từng bước tiếp cận, ứng dụng các thành tựu khoa học hiện đại như công nghệ sinh học, công nghệ gen, y học tái tạo…

– Nghiên cứu, phát triển dược liệu, y học cổ truyền và sản xuất thuốc từ nguồn dược liệu sẵn có tại địa phương, kết hợp bảo tồn, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, sản xuất thuốc, sinh phẩm, thực phẩm chức năng, thiết bị y tế đơn giản và vật tư y tế tiêu hao, phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Chủ động hợp tác, liên kết với các cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp dược phẩm, thiết bị y tế trong, ngoài nước để tiếp nhận, chuyển giao công nghệ sản xuất thuốc, vắc-xin, sinh phẩm phòng bệnh phù hợp điều kiện của tỉnh. Ưu tiên sử dụng nguồn Quỹ phát triển khoa học, công nghệ địa phương cho nghiên cứu, ứng dụng và sản xuất thuốc dược liệu, thuốc generic, dạng bào chế hiện đại từ nguồn dược liệu trong tỉnh… góp phần từng bước nâng cao năng lực tự chủ trong cung ứng thuốc và trang thiết bị y tế.

Sáu là, đẩy mạnh phát triển y tế tư nhân, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển y tế:

Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, thúc đẩy mạnh mẽ sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân, huy động các nguồn lực xã hội trong công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân, nhất là đầu tư, phát triển cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao, dịch vụ phòng bệnh, nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực y tế, sản xuất thuốc, kiểm định, kiểm nghiệm, kiểm chuẩn. Khuyến khích phát triển các bệnh viện tư nhân có quy mô lớn, trình độ kỹ thuật chuyên sâu; các cơ sở chăm sóc sức khỏe ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, đồng bào dân tộc thiểu số; cơ sở chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em; tham gia công tác phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an ninh y tế… Có cơ chế đột phá để khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội cho các chương trình nâng cao thể lực, trí lực, tầm vóc người Việt Nam.

– Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đầu tư của tư nhân, hợp tác công tư trong lĩnh vực y tế theo quy định của pháp luật. Ưu tiên dành quỹ đất sạch, đất thu hồi của các dự án, cho phép chuyển đổi linh hoạt mục đích sử dụng đất sang đất dành cho y tế: tập trung giải phóng mặt bằng, giao đất sạch cho các dự án xây dựng, phát triển các cơ sở chăm sóc sức khỏe. Không thu tiền sử dụng đất, giảm tiền thuê đất, tiền thuế đất đối với các cơ sở y tế trong nước. Không áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các cơ sở y tế công lập, tư nhân hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Ưu tiên dành trụ sở cơ quan nhà nước dôi dư sau sắp xếp cho các cơ sở y tế; cho phép áp dụng hình thức cho thuê công trình thuộc sở hữu nhà nước đối với cơ sở y tế tư nhân theo quy định. Tăng cường kiểm tra, giám sát, không để trục lợi chính sách, sử dụng lãng phí, kém hiệu quả, thất thoát các nguồn lực, xử lý nghiêm các sai phạm./.

Minh Hải – Khoa TT-GDSK, TT.KSBT tỉnh An Giang

(nguồn https://noibo.kiengiang.dcs.vn/tai-lieu-sinh-hoat-chi-bo/van-ban-moi-so-thang-12-nam-2025-544.html)

Các tin liên quan

Tài liệu tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT
BHYT

Tài liệu tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT

14/04/2026
Đảng bộ bộ phận Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh An Giang tham dự Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt Nghị quyết Trung ương 2 khóa XIV
Ảnh chụp

Đảng bộ bộ phận Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh An Giang tham dự Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt Nghị quyết Trung ương 2 khóa XIV

14/04/2026
Hội nghị tập huấn triển khai Sổ tay đảng viên điện tử
Ảnh chụp

Hội nghị tập huấn triển khai Sổ tay đảng viên điện tử

10/04/2026
Vĩnh Thuận: tác động của dân số đến hệ thống y tế
Ảnh chụp

Vĩnh Thuận: tác động của dân số đến hệ thống y tế

03/04/2026
Cải cách hành chính

TOÀN VĂN: Nghị định 31/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lưu trữ

01/04/2026
Đảng bộ bộ phận Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh An Giang tham dự Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
Ảnh chụp

Đảng bộ bộ phận Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh An Giang tham dự Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

23/03/2026
Vì SKCĐ (12/03/2026) | ATV: Tầm soát phát hiện chủ động bệnh lao và lao tiềm ẩn ngoài cộng đồng – Những nhịp đập Không nghỉ tại Khoa Nội, Bệnh viện Đa khoa  Kiên Giang
Chủ đề truyền thông

Vì SKCĐ (12/03/2026) | ATV: Tầm soát phát hiện chủ động bệnh lao và lao tiềm ẩn ngoài cộng đồng – Những nhịp đập Không nghỉ tại Khoa Nội, Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang

21/03/2026
Đề xuất chủ trương “Phát hiện bệnh lao gắn với khám sức khỏe định kỳ cho mỗi người dân”
Bài viết theo đặt hàng

Đề xuất chủ trương “Phát hiện bệnh lao gắn với khám sức khỏe định kỳ cho mỗi người dân”

19/03/2026
Click vào để tải Quyết định 70/QĐ-KSBT

Quy chế hoạt động của Ban Biên tập Trang thông tin điện tử được ban hành kèm theo Quyết định số 71/QĐ-KSBT ngày 05/9/2025 của Giám đốc TT.KSBT An Giang: tải tập tin tại đây

@2020 CDC An Giang – Thiết kế: Khoa TT-GDSK, CDC An Giang.

Facebook Youtube
No Result
View All Result
  • Home
  • Giới thiệu
    • Thông tin đơn vị
    • Sơ đồ tổ chức
    • Chức năng, nhiệm vụ của CDCAG
    • Chức năng, nhiệm vụ các Khoa – Phòng
    • Thông tin người có thẩm quyền
    • Fanpage
    • Youtube
    • OA Zalo
  • Hoạt động
    • 57-NQ/TW & 71/NQ-CP
    • Nghị quyết 72-NQ/TW
    • Nền tảng “Bình dân học vụ số”
    • Công tác CDC
    • Khoa – Phòng
    • Cải cách hành chính
      • Thủ tục hành chính: lĩnh vực phòng bệnh
      • Thủ tục hành chính: Kiểm dịch y tế
      • Thủ tục hành chính: HIV/AIDS
      • Kết quả giải quyết TTHC
      • Thông tin tổng hợp
      • Tài chính – Kế toán
      • Tuyên truyền pháp luật
      • Chuyển đổi số và Đề án 06/CP
      • Gương tốt
    • Đảng – Đoàn
      • Công tác Đảng
      • Đại hội Đảng toàn quốc XIV
      • Công đoàn
      • Đoàn Thanh niên
      • Học tập và làm theo gương Bác
  • Tin tức – Sự kiện
    • Thông cáo báo chí
    • Chủ đề truyền thông
    • Dược phẩm – Mỹ phẩm
    • Tuyên truyền phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả
  • Tài liệu truyền thông
    • Vi-rút Nipah
    • COVID-19
    • Bệnh lây nhiễm
      • Sốt xuất huyết
      • Tay – Chân – Miệng
      • Cúm gia cầm
      • Bệnh dại
      • Ho gà
      • Sởi – Rubella
      • Đậu mùa khỉ
      • HIV – Ma túy – Lao
    • Bệnh không lây nhiễm
      • Tổng hợp
      • Dinh dưỡng
      • Sức khỏe sinh sản
      • PCTH Thuốc lá
      • PCTH Rượu – Bia
      • Thalassemia
    • PC dịch (Bộ Y tế)
    • Phòng chống, khắc phục thiên tai
    • Chủ đề khác
      • Mùa nắng nóng
      • PCD mùa mưa lũ
      • Cúm mùa
      • Đau mắt đỏ
      • Viêm gan cấp
      • PC kháng thuốc
  • Dịch vụ
    • Vắc xin tiêm ngừa
    • Các dịch vụ khác
  • Mua sắm đấu thầu
  • Thông báo
  • Liên hệ

Copyright©2020 CDC An Giang. Thiết kế: Khoa TT-GDSK, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật An Giang