Bệnh dại là gì và mức độ nguy hiểm ra sao ?
Bệnh dại là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút dại gây ra, lây từ động vật (chủ yếu là chó, mèo) sang người qua vết cắn, vết cào hoặc khi nước bọt của động vật nhiễm bệnh tiếp xúc với vết thương hở, niêm mạc (mắt, mũi, miệng). Khi các triệu chứng lâm sàng đã xuất hiện, tỷ lệ tử vong gần như 100%. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng hơn 70 ca tử vong do bệnh dại, phần lớn do chó dại cắn.
Bệnh dại lây truyền như thế nào ?

Vi rút dại lây chủ yếu qua vết cắn, vết cào hoặc tiếp xúc trực tiếp với nước bọt của động vật mắc bệnh. Chó là nguồn lây chính, chiếm khoảng 96% các trường hợp tại khu vực Đông Nam Á. Ngoài ra, một số động vật khác như mèo, cầy, cáo… cũng có thể truyền bệnh.
Dấu hiệu nhận biết bệnh dại ở người ?
Thời gian ủ bệnh có thể thay đổi, trung bình từ một đến ba tháng, có khi từ vài ngày đến nhiều năm sau khi bị cắn, khi khởi phát thường có các biểu hiện: sốt, mệt mỏi, đau hoặc tê tại vị trí vết cắn. Sau đó xuất hiện các triệu chứng đặc trưng như sợ nước, sợ gió, co giật, kích thích, rối loạn ý thức. Bệnh tiến triển nhanh và dẫn đến tử vong trong vài ngày.
Khi bị chó, mèo cắn cần làm gì ?
-Rửa vết thương ngay dưới vòi nước chảy với xà phòng trong ít nhất 15 phút.
-Sát trùng bằng cồn 70 độ hoặc dung dịch Povidone-iodine.
-Không băng kín vết thương.
-Đến ngay cơ sở y tế để được tư vấn và tiêm vắc xin, huyết thanh kháng dại khi cần.
-Tuyệt đối không tự điều trị bằng các bài thuốc truyền miệng dân gian, mê tín dị đoan…
Vắc xin phòng dại có vai trò như thế nào ?
Vắc xin phòng dại an toàn, hiệu quả cao. Tiêm phòng sớm và đủ liều sau phơi nhiễm là biện pháp duy nhất giúp ngăn ngừa tử vong.
Cần làm gì để phòng bệnh dại trong cộng đồng ?
-Tiêm phòng đầy đủ, định kỳ cho chó, mèo nuôi.
-Không thả rông, đeo rọ mõm khi đưa chó ra nơi công cộng.
-Hạn chế tiếp xúc, buôn bán, giết mổ động vật không rõ nguồn gốc.
Lưu ý đối với trẻ em
Không cho trẻ chơi với chó, mèo lạ; hướng dẫn trẻ báo người lớn ngay khi bị cắn hoặc cào; người nhà cần đưa trẻ đi tiêm phòng kịp thời khi có nguy cơ./.
Hứa Thị Nữ
Khoa TT-GDSK- TTKSBT An Giang





